Trang chủGiao dịch trực tuyếnTrung tâm phân tíchHỗ trợ
Tìm kiếm
Kinh tế Việt Nam: Thấy gì từ bức tranh đầu tư phát triển tại Việt Nam "hậu” WTO?
TTVN - 11 Tháng Mười 2012        -
Sau 5 năm "ra biển lớn" WTO, nền kinh tế Việt Nam nói chung, lĩnh vực đầu tư phát triển tại Việt Nam đã có nhiều thay đổi đáng phải suy ngẫm.

Từ lạc quan đến thực tế buồn

Kể từ khi trở thành thành viên chính thức của WTO, ngày 11/1/2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam luôn ở mức cao, bình quân 5 năm 2007 - 2011 đạt 7%/năm. Tổng số vốn đầu tư toàn xã hội gấp 2,5 lần so với giai đoạn 2001 - 2005, đạt 42,9% GDP.

Bối cảnh kinh tế khó khăn của thế giới và Việt Nam từ năm 2008 đến nay đã tác động nhiều chiều đến đầu tư phát triển toàn xã hội của nước ta.

Viễn cảnh lạc quan trước thời điểm gia nhập WTO đã được cổ vũ khi tăng trưởng nhảy vọt vào năm đầu tiên gia nhập WTO, với tổng vốn đầu tư phát triển tăng 27,0% vào năm 2007. Tuy nhiên, năm tiếp theo chứng kiến đà tăng trưởng xuống mức thấp hơn so với 5 năm trước gia nhập WTO, và cuối cùng là tăng trưởng âm vào năm 2011.

Tính bình quân tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2007-2011 chỉ tăng 8,3%/năm, thấp hơn đáng kể so với mức 13,4%/năm giai đoạn 2002-2006.

Xem xét tương quan giữa tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội/GDP và tốc độ tăng trưởng GDP phần nào cho thấy, hiệu quả đầu tư sau 5 năm gia nhập WTO chưa được cải thiện so với giai đoạn trước, nếu không xét đến các yếu tố khác.

Đặc biệt, thực tế cho thấy, tỷ trọng đầu tư của khu vực tư nhân trong và ngoài nước trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng lên mạnh mẽ trong 1-2 năm đầu gia nhập WTO, sau đó giảm và chững lại. 

Biểu đồ: Tăng trưởng vốn đầu tư toàn xã hội

 
Nguồn: Số liệu của Tổng cục Thống kê (2011, 2012)

Cụ thể là: Tỷ trọng đầu tư của khu vực kinh tế ngoài nhà nước/tổng ĐTTXH tăng từ 22,6% năm 2001 lên 38,1% vào năm 2006, và giảm xuống khoảng 33,9% năm 2009; sau đó tăng lên 36,1% và 35,2% vào năm 2010 và 2011, nhưng vẫn thấp hơn năm 2006.

Tỷ trọng của khu vực có vốn FDI cũng liên tục tăng trong giai đoạn 2004-2008, từ 14,2% năm 2004, tăng lên 16,2% vào năm 2006 và 30,9% vào năm 2008; sau đó đã giảm xuống 25,6% vào năm 2009 và duy trì ở mức dưới 26% trong năm 2010 và 2011.

Đặc biệt, xu hướng tăng tỷ trọng đầu tư của khu vực tư nhân và giảm tỷ trọng đầu tư của khu vực nhà nước chưa thực sự rõ nét, thậm chí còn chuyển dịch theo chiều ngược lại trong một số năm. Đặc biệt, trong năm 2010 và 2011, vốn đầu tư của khu vực nhà nước vẫn chiếm 38-39% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

Đây không phải là những con số đáng khích lệ, vì đầu tư của Nhà nước tuy có tác động quan trọng đến sự phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhưng có thể làm tăng bội chi ngân sách, nợ công, góp phần gây ra lạm phát và các bất ổn kinh tế vĩ mô khác, nhất là trong bối cảnh lĩnh vực đầu tư này còn trình trạng dàn trải, kém hiệu quả kéo dài.

Bên cạnh đó, đầu tư của Nhà nước quá lớn có thể là nguyên nhân loại bỏ hay hạn chế (crowding-out) sự tham gia của đầu tư tư nhân. Tỷ trọng đầu tư của Nhà nước tăng lên, cùng những rủi ro và tác động tiêu cực của việc tăng đầu tư này trong thời gian qua cũng là điều mà Nhà nước không mong muốn.

Cơ cấu đầu tư chuyển dịch còn chậm

Qua đánh giá thực tế cho thấy, cơ cấu đầu tư toàn xã hội theo ngành, lĩnh vực còn chuyển dịch chậm. Đầu tư phát triển tập trung khá nhiều vào những ngành nghề sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên, đất đai, năng lượng, xuất khẩu sản phẩm thô, có kỹ thuật, công nghệ, năng suất lao động thấp, mà chưa chuyển dịch nhanh sang các ngành nghề có hàm lượng kĩ thuật, công nghệ cao, xuất khẩu sản phẩm qua chế biến, tạo ra nhiều giá trị gia tăng.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, hoạt động kinh doanh bất động sản tăng trưởng cao nhất với tốc độ bình quân 39,7%/năm, gấp hơn 2 lần so với mức bình quân 18,0%/năm giai đoạn 2002-2006; Tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 19,6%/năm, gấp gần 4 lần so với mức bình quân 5,0%/năm giai đoạn 2002-2006; Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng bình quân 12,0%/năm, cao hơn đáng kể so với mức bình quân 9,2%/năm giai đoạn 2002-2006...

Đây là nguyên nhân dẫn đến chất lượng tăng trưởng thấp.

Cần phải làm gì?

Để đầu tư phát triển theo đúng định hướng, phù hợp với giai đoạn mới, theo các chuyên gia của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần phải triển khai những giải pháp sau:

Thứ nhất, đổi mới phương thức thực hiện, cải tiến cơ cấu đầu tư toàn xã hội theo chủ trương tái cơ cấu đầu tư, nhằm đảm bảo tính hợp lý, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm theo từng ngành, lĩnh vực, từng vùng, từng địa phương và theo từng nguồn vốn. Từ đó, góp phần đổi mới mô hình tăng trưởng, phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh, lợi thế so sánh của nền kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, ngành và doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.

Đây là yêu cầu cấp bách khi hầu hết các cam kết gia nhập WTO đến thời hạn thực thi từ năm 2012 theo lộ trình (sau 5 năm kể từ khi gia nhập), với độ mở ngày càng cao hơnnền kinh tế đang đối mặt với mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn.

Thứ hai, xây dựng khuôn khổ chính sách đầu tư để bảo đảm cho sự phát triển bền vững; coi tăng trưởng toàn diện và phát triển bền vững mục tiêu quan trọng của các chính sách và nỗ lực về thu hút và tối đa hóa lợi ích của đầu tư trong thời gian tới.

Thứ ba, đẩy mạnh xã hội hóa trong đầu tư phát triển, tăng dần tỷ trọng vốn đầu tư của dân cư, tư nhân trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, giảm dần tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực nhà nước. Đồng thời, tăng cường thu hút các nguồn lực xã hội cho đầu tư kết cấu hạ tầng, khuyến khích các hình thức đầu tư đối tác công - tư (PPP), đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài vào kết cấu hạ tầng.

Thứ tư, tổ chức thực hiện và quản lý có hiệu quả các nguồn vốn để góp phần thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển bền vững.

Anh Phương
Đăng nhập để xem tin tức trong danh mục.

Đăng kýnếu chưa có tài khoản.